Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Nôn trớ là triệu chứng hay gặp ở trẻ nhỏ. Nôn trớ là hiện tượng thức ăn trong dạ dày bị đẩy lên thực quản rồi trào ra miệng. Nôn trớ có thể lành tính, tự khỏi khi trẻ lớn hơn. Có khi nôn trớ là biểu hiện của những bệnh lý tiêu hóa như trào ngược dạ dày thực quản, có thể là triêu chứng của bệnh lý đường hô hấp hay là bệnh lý toàn thân,v.v…

Bệnh nôn trớ ở trẻ

Khi trẻ nôn trớ, cha mẹ nên xem trẻ có những biểu hiện nào kèm theo không, ví dụ như sốt hay tiêu lỏng, ho, hay sổ mũi, phát ban v.v…
Nôn trớ đơn thuần thường liên quan đến ăn uống. Hay gặp ở trẻ nhỏ do ép trẻ ăn quá nhiều, bú quá no, nằm liền sau khi bú, hoặc không dung nạp thức ăn hoặc bắt đầu ăn bổ sung với thức ăn mới lạ, hoặc ăn nhiều quá 1 loại thức ăn nào đó. Nôn thường xuất hiện sớm, số lượng chất nôn ít, chủ yếu là thức ăn. Trẻ vẫn chơi bình thường, không ảnh hưởng đến tình trạng cơ thể. Do vậy, chỉ cần điều chỉnh cách cho ăn.
hien-tuong-non-tro-o-tre
- Không ép trẻ ăn nhiều làm cho trẻ ngại khi nhìn thấy thức ăn.
- Khi cho 1 loại thức ăn mới nên cho từ ít đến nhiều, từ lỏng đến đặc, chia làm nhiều bữa nhỏ trong ngày .
- Ở những trẻ bú mẹ thì sau khi bú xong nên bế trẻ 10-15 phút rồi mới đặt trẻ nằm.
- Khi cho trẻ bú bình lưu ý sao cho sữa ngập núm vú bình để tránh nuốt không khí vào dạ dày.
- Ngoài ra có thể sử dụng thuốc chống nôn theo chỉ định của bác sĩ.
Nôn do bệnh tật: Hay gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn tiêu chảy, viêm mũi họng, viêm phổi, viêm màng não… một số bệnh ngoại khoa như lồng ruột, tắc ruột, viêm ruột non hoại tử…
Trẻ nôn đột ngột và kèm theo các triệu chứng đặc hiệu của từng bệnh. Cần đưa trẻ đến khám ở cơ sở y tế để xử trí kịp thời.
Khi bé nôn nhiều cũng giống như đi tiêu lỏng , bé sẽ mất một lượng nước khá lớn. Do đó quan trọng là phải bổ sung lượng nước đã mất để cơ thể bé không mất chất điện giải. Tại nhà ta có thể dùng dung dịch Oresol, nước chín hay nước trái cây loãng.
Khi bé nôn nhiều, đừng cố gắng cho bé tiếp tục uống mà cần thực hiện các biện pháp sau:
Lưu ý : tư thế khi bé nôn nên để bé nằm nghiêng hoặc đỡ bé ngồi dậy , đề phòng khi bé nôn, chất nôn sẽ tràn vào khí quản , gây sặc rất nguy hiểm. Đã từng có trường hợp bé nôn trớ khi nằm ngữa , chất nôn tràn vào phổi gây ngừng thở, đến khi người nhà phát hiện đưa bé vào viện thì bé đã tím tái , không còn cứu chữa được.
Khi đã lưu ý tư thế, thì nên chờ cho bé bớt nôn trớ, hãy cho uống một lượng nhỏ nước chín hoặc dung dịch Oresol, bé bị mất nước nhiều nên sẽ khát, khi đưa nước bé sẽ có khuynh hướng uống nhiều, sau đó sẽ nôn thốc tháo, do đó nên cho uống bằng muỗng nhỏ hoặc từng ngụm một .
Nếu bé tiếp tục nôn nhiều, nên đưa bé đi khám. Nếu bé bớt nôn trớ thì cần cho uống luân phiên 50ml dung dịch Oresol và 50ml nước chín sau mỗi nửa giờ. Sau khi cho bé uống loại nước này mà bé không nôn trớ nữa thì cho bé bú sữa mẹ hoặc bú bình, tăng dần số lượng từ 80 – 100ml sau mỗi 3 – 4 giờ. Nếu bé không nôn trớ từ 12 – 24 giờ thì có thể cho bé ăn uống bình thường, nhưng vẫn cho bé uống nhiều nước. Bắt đầu với những thực phẩm dễ tiêu hoá như ngũ cốc hay sữa chua.
Nên nhớ khi bé nôn nhiều tức là bộ phận tiêu hóa đang có vấn đề cần nên nghỉ ngơi cho nên phụ huynh chỉ nên cho bé uống nước để không bị mất nước, đừng nên cố gắng ép ăn, không giúp được bé mà còn làm tăng triệu chứng và bé càng quấy khóc nhiều hơn.
Giúp trẻ ngủ sẽ làm cho bé nhanh hồi phục hơn, vì dạ dày trống trong suốt thời gian này sẽ giúp bé dễ chịu hơn. Không cho bé dùng bất kỳ loại thuốc chống nôn nào khi chưa được sự cho phép của bác sĩ.
Trường hợp trẻ nôn trớ kéo dài hoặc nôn do bệnh lý mà trẻ có biểu hiện các triệu chứng như: sốt, đau bụng, lơ mơ, co giật, hay nôn ói liên tục, có dấu hiệu mất nước như: miệng khô, ít nước mắt, tiểu ít,… thì cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được chữa trị kịp thời.
Trường hợp trẻ bị sặc , đừng cố lấy tay móc thức ăn hay chất nôn ra, nên làm nghiệm pháp Heimlich ở trẻ lớn, đứng sau lưng trẻ, quàng 2 tay ra ôm lấy bụng trẻ và ấn mạnh vào, áp lực mạnh sẽ làm trẻ nôn ói ra dị vật đường thở. Ở trẻ nhỏ hơn thì nên để nằm sấp trên đùi chúng ta và vỗ mạnh vào lưng trẻ như hình vẽ. Dị vật , chất nôn sẽ được tống ra.
Sau khi tống chất nôn ói ra được nếu bé còn mệt thì nên đưa bé đến cơ sở y tế gần nhất.

Kiến thức cần thiết về bệnh vàng da ở trẻ em - Vàng da là tình trạng gặp ở hầu hết các trẻ sơ sinh, tuy nhiên cần phân biệt giữa vàng da sinh lý và vàng da bệnh lý để có hướng xử trí đúng.

1. Vì sao trẻ sơ sinh dễ bị vàng da?

Phần lớn trẻ sơ sinh có biểu hiện vàng da trong vòng 1 tuần sau khi ra đời. Đây là hiện tượng sinh lý bình thường, xảy ra do các hồng cầu của thai nhi bị phá hủy để được thay thế bằng hồng cầu trưởng thành. Khi hồng cầu bị vỡ, một lượng lớn Bilirubin – một chất có sắc tố màu vàng – được phóng thích vào máu, làm cho trẻ bị vàng da.
vang-da-o-tre-so-sinh

2. Vàng da sơ sinh có nguy hiểm không?

Đa số các trường hợp vàng da ở trẻ sơ sinh đều nhẹ và tự khỏi sau 7-10 ngày, khi chất Bilirubin được đào thải hết qua phân và nước tiểu. Tuy nhiên, có một số trường hợp vàng da nặng do chất Bilirubin tăng quá cao và thấm vào não (y học gọi là vàng da nhân). Tình trạng này rất nguy hiểm, có thể làm cho trẻ bị hôn mê, co giật, dẫn đến tử vong hoặc di chứng về tâm thần vận động vĩnh viễn.

3. Làm thế nào để phát hiện vàng da?

Chứng vàng da rất dễ nhận biết bằng mắt thường ở nơi có đủ ánh sáng. Vì vậy, hằng ngày, các bà mẹ cần quan sát màu da toàn thân của trẻ ở nơi sáng. Trong trường hợp khó nhận biết (da trẻ đỏ hồng hoặc đen), nên ấn nhẹ ngón tay cái lên da trẻ trong vài giây, sau đó buông ra; nếu trẻ bị vàng da, nơi ấn ngón tay sẽ có màu vàng rõ rệt. Khi trẻ có biểu hiện nghi là vàng da, cần đưa đến bác sĩ để kiểm tra.
Vàng da được chia thành 2 mức độ:
- Nhẹ: Da hơi vàng ở mặt, thân mình; trẻ vẫn bú tốt; hoặc vàng da xuất hiện muộn, sau ngày thứ ba.
- Nặng: Da vàng sậm, lan xuống tay, chân; trẻ bú kém, bỏ bú; hoặc vàng da xuất hiện sớm, trong vòng 1-2 ngày sau sinh. Những trẻ sinh non, nhiễm trùng, sinh ngạt dễ bị vàng da nặng.

4. Làm gì khi trẻ bị vàng da?

Đối với trường hợp nhẹ, có thể điều trị tại nhà bằng cách tắm nắng. Đặt trẻ gần cửa sổ, nơi có ánh nắng dịu của mặt trời (vào khoảng 8-8h30 mỗi sáng, lúc trời không quá nóng hay quá lạnh). Cho trẻ bú nhiều lần trong ngày vì sữa mẹ giúp đào thải nhanh chất Bilirubin qua đường tiêu hóa. Cần theo dõi diễn tiến của chứng vàng da mỗi ngày trong vòng 7-10 ngày sau sinh.
Trẻ bị vàng da nặng cần được nhập viện ngay để được điều trị tích cực bằng các phương pháp sau:
- Chiếu đèn: Ánh sáng của đèn biến Bilirubin thành chất không độc và được thải nhanh ra khỏi cơ thể qua đường tiêu hóa, đường tiểu.
- Thay máu: Lấy bớt chất Bilirubin ra khỏi cơ thể một cách nhanh chóng.

5. Lúc nào cần đưa trẻ đến bệnh viện?

Hãy đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế khi có một trong các dấu hiệu sau:
- Bú ít hơn một nửa so với bình thường.
- Vàng da lan đến tay chân.
- Vàng da xuất hiện trong 1- 2 ngày sau sinh.
- Vàng da kéo dài trên 15 ngày.

Khi nói đến bệnh lý về tiêu hóa, thường mọi người chỉ tập trung vào tiêu chảy, nhưng trên thực tế, táo bón (TB) cũng rất thường gặp ở trẻ và hay bị bỏ qua vì nghĩ bệnh không ảnh hưởng nhiều lắm tới sức khỏe. Tuy nhiên, TB có thể gây ra những hậu quả khó lường, mà điển hình là trẻ biếng ăn, chậm tăng cân và thậm chí suy dinh dưỡng.


Cẩn trọng với bệnh viêm đường hô hấp cấp ở trẻ - Nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em là bệnh phổ biến, có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao, trẻ có thể mắc bệnh nhiều lần trong 1 năm (trung bình từ 3-5 lần) do đó ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tính mạng của trẻ, đồng thời cũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới công việc của người mẹ (con ốm mẹ nghỉ).

Nguyên nhân
Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là do căn nguyên virut, do đặc điểm phần lớn các loại virut có ái lực với đường hô hấp. Khả năng lây lan của virut dễ dàng, tỷ lệ người lành mang virut cao và khả năng miễn dịch đối với virut ngắn và yếu cho nên bệnh dễ có nguy cơ phát triển trong một cộng đồng thành dịch và dễ bị nhiễm lại.
Những virut thường gặp gây NKHHCT ở trẻ em gồm:virut hợp bào hô hấp (RSV), virut cúm, virut á cúm, virut sởi, Adenovirus (còn gọi là virut hạch), Rhinovirus, Enterovirus, Cornavirus... Ở các nước đang phát triển như nước ta, căn nguyên nhiễm khuẩn vẫn đóng vai trò quan trọng trong NKHHCT ở trẻ em, đứng đầu là: Hemophilus influenzae, liên cầu, tụ cầu, Bordetella, Klebsiella pneumoniae, Chlamydia trachomatis...
Cẩn trọng với bệnh viêm đường hô hấp cấp ở trẻ

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Con trai tôi được 13 tháng nhưng cháu chỉ nặng 8kg và cao 72cm. Cháu vẫn chưa biết đi và mới mọc 3 cái răng. Xin hỏi, con tôi như thế có còi cọc không? Tôi phải cho cháu ăn uống thế nào để phát triển bình thường như các trẻ khác?

Chăm sóc trẻ em: Bí quyết chăm sóc trẻ còi xương

Năm 2011, viêm phổi đã cướp đi 1,3 triệu mạng sống, là nguyên nhân dẫn đến gần 1/5 ca tử vong ở trẻ em trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, mỗi ngày có 11 trẻ dưới 5 tuổi chết vì viêm phổi. Càng trẻ nghèo, nguy cơ chết vì viêm phổi càng cao.

Thông tin trên được Ông Jesper Moller, Phó Đại diện UNICEF Việt Nam cho biết hôm 12/11, nhân kỷ niệm Ngày Thế giới Phòng chống Viêm phổi lần thứ tư diễn ra hàng năm.
Ông Jesper Moller đánh giá: “Viêm phổi là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với trẻ em ở Việt Nam. Gánh nặng lớn nhất trong phòng chống viêm phổi lại rơi vào những gia đình nghèo nhất, là những gia đình vốn đã có quá nhiều gánh nặng. Một đứa trẻ sống trong một gia đình nghèo có nguy cơ chết vì viêm phổi cao hơn rất nhiều so với những trẻ sống trong 20% những hộ gia đình giàu nhất”.

Có 99,4% dân số mắc bệnh về răng miệng, trong đó 85% học sinh tiểu học bị sâu răng, thống kê do Viện Răng Hàm Mặt phối hợp với ĐH Adelaide, Australia công bố.

Ba yếu tố quan trọng gây bệnh sâu răng là vi khuẩn, đường, và thời gian. Ban đầu, vi khuẩn gây bệnh sử dụng đường trong thức ăn và đồ uống hằng ngày để tạo và phát triển trên các mảng bám răng. Đồng thời, chúng kết hợp thành lớp axít bào mòn tế bào men và ngà răng dẫn đến hình thành lỗ sâu trên bề mặt răng. Bệnh sâu răng chỉ xuất hiện khi cả 3 yếu tố này cùng diễn ra. Vì thế, ngăn chặn bệnh là ngăn ngừa không cho một hoặc ba yếu tố xuất hiện cùng lúc bởi càng để nhiều thời gian cho đường và vi khuẩn gặp nhau, nguy cơ mắc bệnh sâu răng càng cao. Ngoài ra, một nguyên nhân khác nữa là nồng độ flour trong nước ăn hầu hết chỉ ở mức 0,4 ppm (chưa bằng một nửa chuẩn quốc tế).
Trẻ sâu răng: Nguyên nhân vì sao?
Trẻ sâu răng: Nguyên nhân vì sao?

Cận thị: Căn bệnh hoành hành ở trẻ em hiện nay - Đã hai thế kỷ trôi qua kể từ khi Fuch có công trình đầu tiên nghiên cứu về cận thị trong đó những kết luận của ông vẫn còn nguyên giá trị cho tới bây giờ.

Cận thị: Căn bệnh hoành hành ở trẻ em hiện nay

Thiếu vitamin A, D không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn hạn chế sự phát triển thể lực ở trẻ. Việc bổ sung vitamin A, D thông qua các bữa ăn dinh dưỡng cân đối hằng ngày được coi là giải pháp bền vững giúp trẻ phòng chống thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng (VCDD) này.

Làm sao để cải thiện tầm vóc của người Việt Nam
Để nâng cao chất lượng giống nòi, để người Việt Nam chúng ta cũng có tầm vóc chiều cao cân nặng sánh cùng các nước khác trong khu vực và trên thế giới thì việc nâng cao thể lực, trí lực và sức khỏe cho mọi người hôm nay và những thế hệ mai sau là rất quan trọng. Tầm vóc và chiều cao của mỗi người được xác định bởi tiềm năng di truyền và yếu tố môi trường bên ngoài trong đó có dinh dưỡng, bệnh tật và môi trường sống. Song kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy, cơ thể chỉ có thể phát triển tốt, đạt được tiềm năng đó khi môi trường sống đặc biệt là dinh dưỡng đáp ứng được nhu cầu của cơ thể. Ngoài các nhóm chất dinh dưỡng chính là tinh bột, chất đạm, chất béo thì các VCDD có một vai trò cực kỳ quan trọng đối với cơ thể.

Tuy thành phần có mặt trong cơ thể với hàm lượng rất nhỏ (đơn vị tính là microgam) nhưng có vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cơ thể, nếu thiếu VCDD sẽ dẫn đến một số bệnh lý đặc thù. Theo các nhà dinh dưỡng thì có khoảng 40 loại VCDD cần thiết cho cơ thể và từ trước đến nay chúng ta nói nhiều đến vai trò của bộ ba vitamin A, sắt và iốt. Tuy nhiên, liên quan đến phát triển cơ thể trẻ em ngoài bộ ba vitamin trên còn có nhiều vi chất quan trọng khác như kẽm (Zn), vitamin D…

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Khám lưỡi cho trẻ tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Ảnh: PV
Viêm lưỡi bản đồ là tình trạng viêm lưỡi di chuyển lành tính. Sang thương lưỡi có biểu hiện phân phối rải rác như hình bản đồ do hiện tượng teo gai lưỡi, bao quanh bởi một vành trắng dày sừng. Trên lưỡi có những vết như hình bản đồ, viền mầu trắng, phía trong đỏ đậm hơn mầu lưỡi bình thường, dần dần loang rộng ra và vết khác xuất hiện. Bệnh có thể phát triển nhanh chóng sang các vị trí khác nhau ở lưỡi nhưng cũng có thể khỏi tự nhiên không để lại dư chứng gì.Viêm lưỡi bản đồ bao giờ cũng bắt đầu bằng một chấm lõm nhỏ ở cạnh lưỡi hoặc ở đầu lưỡi, nhẵn và đỏ hơn phần lưỡi còn lại. Bệnh lan ra thành hình vòng cung, tròn hoặc dải xoắn, ngoằn ngoèo. Mỗi một đám đều có bờ nhỏ mầu trắng hơi vàng, làm cho bề mặt lưỡi trông giống như tấm bản đồ. Đặc biệt là hình dạng tổn thương thay đổi từng ngày. Vết này có thể tự mất đi nhưng rồi lại xuất hiện vết khác. Bệnh trải qua từng giai đoạn từ nhẹ đến nặng. Thương tổn cũng có khi cố định hẳn trong một thời gian dài.
Trường hợp bị viêm lưỡi bản đồ. Ảnh: Tl
Viêm lưỡi bản đồ luôn được phát hiện muộn vì không có triệu chứng báo trước nào cả vì bệnh nhân cảm thấy không rát, ăn uống hoàn toàn bình thường. Hiện nguyên nhân của bệnh viêm lưỡi bản đồ vẫn chưa được y học tìm ra.Điều trị: Không có điều trị gì đặc hiệu để chữa hết bệnh viêm lưỡi bản đồ mà bệnh có thể hết một cách tự nhiên. Một số trường hợp kèm viêm loét gây đau ảnh hưởng đến ăn uống có thế dùng thuốc giảm đau, kèm thêm thuốc kháng viêm theo chỉ định của bác sĩ.
Thông thường, mỗi lần bị tình trạng viêm lưỡi bản đồ kéo dài không quá 10 ngày. Những người thường bị tình trạng này nên tránh những thức ăn nóng hay có nhiều gia vị, tránh tiếp xúc với những thức uống có cồn. Giữ gìn vệ sinh răng miệng để tránh viêm loét kèm theo. Mặc dù là bệnh lành tính nhưng khi có triệu chứng kéo dài, gây đau hoặc khó chịu khi ăn cần đến cơ sở y tế để được khám bởi một số ít trường hợp có thể do dị ứng hoặc vẩy nến gây nên.


Những con vật nuôi trong nhà được nhiều người coi chúng như những người bạn thân thiết có thể mang lại niềm vui cho mọi người trong nhà, đặc biệt là trẻ em, song cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe doạ tới sức khoẻ của các thành viên trong gia đình.

Bệnh tự kỷ ở trẻ: Bác sĩ cũng bó tay?

Ngày nào cũng vậy vợ chồng bác sĩ Hà bận rộn ở bệnh viện đến tối mịt mới về nên giao toàn bộ việc chăm sóc con cho vú nuôi. Bé lên 3 tuổi vẫn chưa biết nói, chị Hà sinh nghi đưa đi khám thì tá hỏa vì con bị tự kỷ.Chị Hà là bác sĩ chuyên khoa nhi, chồng cũng là phó giám đốc một bệnh viện lớn tại TP HCM, nhưng trước căn bệnh của đứa con trai duy nhất, vợ chồng cũng đành bó tay. Mỗi lần nhìn bé Tùng đang ăn cơm bỗng dưng cười sặc sụa hay khóc thút thít, hoặc nửa đêm tỉnh dậy đập phá, rồi cào cấu khi mẹ đến bên vỗ về, chị Hà lại đau đớn nuốt nước mắt vào lòng.
“Mình chữa bệnh cho con người ta mà lại không chữa được cho con mình. Mất bao nhiêu tiền của cũng phải chịu, chỉ mong sao con trở lại như được như một đứa trẻ bình thường, biết ăn, biết nói là mừng rồi…”, người mẹ nói. Chị quyết định nghỉ việc ở bệnh viện để ở nhà toàn tâm chăm sóc quý tử.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Bệnh chân tay miệng ở trẻ thường không quá khó để phát hiện và điều trị. Vì vậy, một số điều sau bạn nên biết để có thể giúp ngăn ngừa sự xuất hiện nguồn bệnh xảy ra ở trẻ.

Rửa tay bằng xà phòng
Biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lay của vi khuẩn dẫn đến bệnh chân tay miệng ở trẻ là rửa tay bằng xà phòng. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rửa tay cho trẻ đúng cách. Vì vậy, các mẹ nên lưu ý trình tự rửa tay cho trẻ như sau:
-          Đầu tiên làm ướt bàn tay, rồi lấy bánh xà phòng chà lên lòng và mu hai bàn tay. Sau đó, xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho xà phòng dàn đều.

Cho trẻ rửa tay bằng xà phòng giúp loại bỏ vi khuẩn gây bệnh chân tay miệng
-          Đặt lòng và các ngón của bàn tay này lên mu bàn tay kia và chà xát nhẹ nhàng cả bàn tay và từng kẽ ngón tay. Làm liên tục trong khoảng 2 phút với cả hai bàn tay.
-          Đặt lòng hai bàn tay vào nhau, chà sạch lòng bàn tay và kẽ ngón tay.
-          Sau đó rửa sạch tay dưới vòi nước và dùng khăn sạch thấm khô hoặc hơ tay dưới máy sấy khô tay.
Bạn nên cho trẻ rửa tay mỗi ngày 2 lần là trước và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh. Hoặc một số trường hợp ho hoặc hắt hơi vào tay, sau khi vui chơi hoặc tiếp xúc ở những nơi công cộng,… bạn cũng nên yêu cầu con hoặc trực tiếp rửa tay bằng xà phòng cho con để loại bỏ vi khuẩn gây bệnh chân tay miệng.
Bệnh chân tay miệng ở trẻ 2
Rửa tay bằng xà phòng trước khi đi vệ sinh và sau khi ăn giúp phòng tránh bệnh chân tay miệng
Phát hiện sớm
Để phát hiện sớm bệnh chân tay miệng ở trẻ, bạn có thể chú ý đến các triệu chứng khác thường ở trẻ như xuất hiện mụn nước ở tay, chân, miệng hoặc mông, đồng thời trẻ hay quấy khóc, thậm chí bị sốt,…. Tuy nhiên, bệnh tay chân miệng có nhiều thể khác nhau và cũng có các dấu hiệu không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, các bậc cha mẹ phải thường xuyên theo dõi sức khỏe của trẻ để kịp thời phát hiện và điều trị sớm bệnh chân tay miệng.
Bệnh chân tay miệng ở trẻ 3
Nên chú ý các biểu hiện khác thường của trẻ để phát hiện sớm bệnh chân tay miệng
Không nên quá lo lắng
Khi trẻ bị bệnh chân tay miệng, các cha mẹ cũng không nên quá lo lắng vì đây là căn bệnh có thể điều trị khỏi hoàn toàn. Vì vậy, nếu phát hiện con có các biểu hiện của bệnh chân tay miệng thì việc đầu tiên bạn cần làm là cho con đi khám kịp thời để biết được tình trạng gây bệnh. Sau đó hãy làm theo chỉ dẫn của bác sỹ về cách phòng tránh cũng như điều trị bệnh chân tay miệng ở trẻ.
Bệnh chân tay miệng ở trẻ 4
Cho trẻ đi khám để xác định tình trạng bệnh và có cách điều trị phù hợp
Đôi khi, các mẹ thường quá lo lắng vì con mình vẫn nổi rất nhiều mụn nước và vết loét trên cơ thể nhưng bác sĩ lại cho xuất viện và điều trị tại nhà. Song đó là do bệnh của con không có gì đáng lo ngại mà bạn chỉ cần vệ sinh sạch sẽ cùng với việc bôi thuốc ngoài da để điều trị dứt điểm bệnh.
Ngoài ra, các mẹ cũng nên chú ý chăm sóc và theo dõi thường xuyên các biểu hiện của trẻ để phát hiện sớm các nguy cơ gây bệnh có thể xảy ra. Từ đó có cách phòng chống và điều trị kịp thời, tránh để nguồn bệnh lây lan ra diện rộng.
N.A

Ở trẻ em các bệnh về răng miệng thường là chậm mọc răng, nướu sưng tấy hoặc sâu răng,… Vậy những vấn đề này có thật sự nghiêm trọng không? Và cách phòng ngừa hiệu quả bệnh răng miệng như thế nào?

Cuộc sống bận rộn khiến các bậc phụ huynh ít chăm sóc được nhiều hơn tới con em mình, nhất là về răng miệng. Vì vậy, không ít trẻ đã mắc phải những vấn đề liên quan đến bệnh răng miệng như các mô tả ở dưới đây:
Mọc răng
Khi trẻ mọc răng có thể sẽ khiến sưng nướu, sốt nhẹ, nước dãi nhiều, hay quấy khóc, … Và vấn đề mọc răng nhanh hay chậm ở trẻ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: gen, sự phát triển của hàm, hoạt động của cơ và nếu trẻ em bị hội chứng Down có thể bị trì hoãn việc mọc răng đến 2 năm.

Trẻ chậm mọc răng
Ngoài ra, trong khi mọc răng trẻ có thể gặp các vấn đề như răng mọc so le nhau, hoặc mọc chồng lên nhau mà người ta còn gọi là chứng răng khểnh, hoặc cũng có thể các răng mọc lên sẽ có kích thước và hình dạng khác nhau, … cũng chính là các vấn đề của bệnh răng miệng. Nếu thấy xuất hiện các triệu chứng trên, bạn hãy trao đổi với các chuyên gia chăm sóc sức khỏe để có kế hoạch điều trị răng miệng hiệu quả.
Bệnh răng miệng 2
Thời kì mọc răng trẻ thường bú ngón tay
Nghiến răng
Thi thoảng trong lúc ngủ bạn sẽ nghe thấy tiếng nghiến răng của trẻ. Vấn đề này là sự xuất hiện phổ biến ở những trẻ bị liệt não hay chậm phát triển trí não nghiêm trọng. Và nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến mòn răng và bề mặt bị nhức buốt gây khó khăn cho trẻ trong việc ăn uống và sinh hoạt. Vì vậy, hãy quan tâm đến vấn đề răng miệng ở trẻ và cho bé đi khám sức khỏe răng miệng định kì để phát hiện sớm các nguồn bệnh.
Bệnh răng miệng 3
Khi ngủ trẻ có thể hay nghiến răng
Sâu răng
Các bệnh răng miệng ở trẻ con là bệnh mục xương răng, hay sâu răng. Căn bệnh này do nhiều nguyên nhân gây ra như có thể có liên quan đến việc nôn mửa hay trào ngược dạ dày thực quản, ít hơn lượng bình thường của nước bọt, vệ sinh răng miệng kém, hay ăn kẹo ngọt, ….  Vì vậy, để tránh bệnh sâu răng, bạn nên tạo thói quen cho trẻ đánh răng thường xuyên sau khi ăn và trước khi đi ngủ. Đồng thời cho trẻ đi khám nha khoa định kì sẽ giúp chăm sóc sức khỏe răng miệng của trẻ được tốt hơn.
N.A

Bệnh táo bón không những gây khó khăn cho người lớn trong việc đại tiện mà nó còn rất nghiêm trọng ở trẻ em. Một số bài thuốc dân gian sau đây sẽ giúp bạn điều trị bệnh táo bón trẻ em hiệu quả.

Để điều trị bệnh táo bón trẻ em, ngoài việc cho trẻ ăn nhiều rau xanh và hoa quả, đồng thời năng vận động thì các bậc phụ huynh có thể áp dụng một số bài thuốc sau:
Cam thảo: Dùng cam thảo nam 20 gam, chỉ xác 8 gam và hấp cách thủy 15 phút rồi cho trẻ uống mỗi ngày ngày uống 2-3 lần, mỗi lần từ 1-2 thìa cà phê.

Cam thảo giúp trị táo bón
Rau khoai lang: Lấy khoảng 60g rau khoai lang và nấu canh hoặc ăn luộc cả nước và cái mỗi ngày sẽ rất tốt cho trẻ bị táo bón.
Rau dền: Bạn có thể kết hợp nấu canh hoặc luộc ăn rau dền và rau sam, mỗi loại 30 gam, ăn hàng ngày sẽ giúp trị bệnh táo bón trẻ em nhanh và hiệu quả.
Lá muồng muồng: Cũng có thể nấu nước uống sau mỗi bữa ăn để điều trị táo bón ở trẻ.
Táo bón trẻ em 2
Các loại rau lang, rau dền giúp trị táo bón ở trẻ
Các loại kẹo: Chữa bệnh táo bón ở trẻ bằng các loại kẹo như kẹo mạch nha 1.500 gam, mật ong 500 gam, con nhộng 500 gam, lá dâu 1.000 gam, vừng đen 500 gam, tán thành bột rồi các nguyên liệu này rồi trộn đều với lá dâu non đồ chín, phơi khô và viên thành từng viên sau đó lấy giấy chống ẩm bọc lại hoặc bỏ vào lọ dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần sáng và tối, mỗi lần 1 viên sẽ rất có hiệu nghiệm trong việc điều trị bệnh táo bón trẻ em. Đồng thời còn giúp trẻ chống suy nhược thần kinh, ăn ngủ tốt.
Táo bón trẻ em 3
Các loại kẹo mạch nha, mật ong giúp điều trị táo bón
Ngoài ra, bạn có thể xoa bóp nhẹ nhàng cho trẻ ở phần bụng trong khoảng 10 phút, mỗi ngày làm 2-3 lần, và kéo dài từ 1-2 tuần sẽ thúc đẩy tuần hoàn ở vùng dạ dày và vùng bụng, tăng nhu động ruột, từ đó khiến trẻ đại tiện dễ dàng hơn và ngăn chặn được chứng táo bón.
N.A

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Theo Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ, khoảng 9 tháng tuổi, hầu hết các bé bắt đầu biết tự đứng lên. Bạn có thể khuyến khích con học kỹ năng đứng an toàn với những gợi ý đơn giản hàng ngày khi chăm sóc trẻ.

An toàn với cũi

Còi xương hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi, vì lứa tuổi này hệ xương đang phát triển mạnh. Hậu quả của bệnh còi xương thường ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ trẻ em về phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ đồng thời có thể gây biến dạng xương và tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là viêm phổi.

Những loại quả dưới đây sẽ tốt cho sức khỏe của bé và giúp bé không còn khó chịu vì một số bệnh lý như: mau khát, khô mũi, khô họng, ho...

1. Lê




Quả lê có vị ngọt mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, giảm ho tiêu đờm. Lê có thể làm sinh tố, nước giải khát, món ăn… rất phù hợp với khẩu vị của trẻ.

2. Xoài


Quả xoài có màu sắc, hương thơm, vị xoài chua chua, ngọt ngọt rất dễ ăn nên trẻ thường thích ăn và ăn nhiều. Trong quả xoài có nhiều vitamin bổ dưỡng, tốt cho dạ dày và có tác dụng lợi tiểu.



Ảnh minh họa



3. Bưởi


Bưởi có vị chua, tính hàn, có tác dụng giảm trướng bụng, khó tiêu, long đờm, ngừng ho. Ngoài ra, bưởi còn chứa một hàm lượng phong phú vitamin C, rất có lợi cho trẻ mắc bệnh tim mạch và béo phì.


4. Táo


Không thể phủ nhận công hiệu của táo đối với sức khỏe của bé, đặc biệt là có lợi cho phổi, dạ dày và hệ tiêu hóa. Nếu trẻ tiêu hóa không tốt, có thể ép nước táo cho trẻ uống cũng rất có tác dụng. Người mệt mỏi ăn táo sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.



Ảnh minh họa

5. Lựu

Lựu có vị chua ngọt, tính ôn, có tác dụng giải khát và nhanh chóng làm giảm cảm giác khô miệng, khô họng và khát nước. Dược tính của lựu có thể giúp điều trị bệnh kiết lỵ và tiêu chảy mãn tính.




6. Nho

Nho rất giàu chất dinh dưỡng, tốt cho gan, thận, máu và các chất dịch trong cơ thể, đồng thời còn giúp lợi tiểu. Đặc biệt, sau khi được sấy khô, lượng sắt và đường có trong nho được gia tăng tương đối khiến nho khô trở thành món ăn vặt rất tốt cho trẻ em, phụ nữ và những người mắc bệnh thiếu máu.


Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Chậm phát triển trí tuệ không phải là một đơn thể bệnh mà là một nhóm trạng thái bệnh lý khác nhau về nguyên nhân, bệnh sinh nhưng có chung một bệnh cảnh lâm sàng đó là sự trì trệ về phát triển tâm thần có tính chất bẩm sinh hoặc mắc phải chủ yếu trong 3 năm đầu đời khi hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh về cấu trúc.

Chậm phát triển trí tuệ có nhiều mức độ từ nhẹ đến rất nặng. Ở những thể nặng chẩn đoán dễ dàng vì bệnh cảnh lâm sàng khá rõ nhưng can thiệp điều trị lại rất ít kết quả. Trẻ chậm phát triển trí tuệ thể nặng và thể vừa đều có những biểu hiện kém về mặt tư duy, cảm xúc, hành vi tác phong hoặc có những dị dạng cơ thể ở nhiều bộ phận. Rất may theo số liệu điều tra nghiên cứu của nhiều tác giả thì chậm phát triển trí tuệ thể nặng chỉ chiếm 5%.

 Ảnh minh họa
Còn chẩn đoán chậm phát triển trí tuệ thể nhẹ thì khó vì bệnh cảnh lâm sàng nhiều khi không rõ ràng nên khó phân biệt nó với giới hạn bình thường nhưng nó lại chiếm tới hơn 80%. Ở mức độ nhẹ này việc can thiệp bằng giáo dục, huấn luyện có thể giúp trẻ phát triển trí tuệ tốt hơn, hòa nhập tốt hơn vào môi trường xã hội. Chính vì vậy, cần phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh để có thể phục hồi sớm cho trẻ.
Có thể phát hiện sớm ở những tuần lễ đầu tiên như không có nhu cầu ăn bú (có thể kéo dài vài tháng), trẻ ít cựa quậy, ít hoặc không khóc, chậm cười, chập phản ứng theo tiếng động, chậm phát triển về tâm vận động như lẫy, ngồi, bò, đứng, đi, nói… chậm biết nhai. Trẻ chậm phát triển tâm thần thường có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hay kín đáo ngay từ những tuần đầu.
Tuy nhiên, có một số trẻ phát triển bình thường tới một tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) rồi mới biểu hiện chậm phát triển tâm thần. Ngược lại, có trẻ có biểu hiện chậm phát triển về tâm vận động nhưng đến tuổi nào đó (thường trước 3 tuổi) lại phát triển nhanh đuổi kịp trẻ cùng tuổi. Do vậy, cần phải khám theo dõi cẩn thận sự phát triển của trẻ thì mới có kết luận chính xác và đưa ra cách xử trí kịp thời.

1. Làm gì khi răng mọc lệch lạc, hô hay móm?

Răng bị lệch lạc, hô, hay móm…, ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng. Răng bị lệch khó làm sạch, dễ dẫn đến các bệnh như sâu răng, viêm nướu. Những “trục trặc” trên xử lí dễ dàng hơn nếu được chữa trị sớm. Bên cạnh việc khám trên răng miệng, bác sĩ chỉ định chụp phim X-quang để kiểm tra răng miệng. Với trẻ, nhờ chụp X-quang sẽ xác định trẻ có thiếu mầm răng vĩnh viễn nào không, dự đoán thời gian thay răng cũng như mức độ lệch lạc răng, từ đó đưa ra giải pháp điều trị.
Một trong những giải pháp quan trọng là chỉnh nha. Đây là biện pháp sử dụng các khí cụ tháo lắp hoặc mắc cài cố định, sắp xếp lại răng đúng vị trí. Với những tiến bộ của kỹ thuật nha khoa, chỉnh nha không chỉ dành cho trẻ mà còn dành cho người lớn. Ngay cả ở độ tuổi 50 vẫn chỉnh nha được. Thời gian chỉnh nha kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm rưỡi. Trong thời gian này, khách hàng sẽ được hướng dẫn chải răng đúng cách, đồng thời bác sĩ sẽ phát hiện ra những răng bị sâu hoặc những bệnh khác liên quan đến răng miệng để có hướng xử lý.
2. Gắp đầu bấm viết bi mắc trong phổi, phế quản
Hai trẻ có dị vật trong đường hô hấp vừa được cấp cứu tại bệnh viện Nhi Đồng 2 và xuất viện ngày 19.3.
Trường hợp thứ nhất là một bệnh nhi 14 tuổi, ở Vũng Tàu bị dị vật là đầu bấm viết bi mắc trong phế quản.
Trường hợp thứ hai là một bệnh nhi 10 tuổi (Gò Vấp), bị dị vật đầu bấm viết bi nhựa hình cây dù rớt vào đường thở, nằm ở đáy phế quản bên phải, gây viêm đáy phổi.
Theo lời kể của hai bệnh nhi, các em đã gặp tai nạn khi đang học bài, ngậm đầu nút bấm viết bi và vô tình để đầu nút rớt vào trong họng.
Hai ca nói trên thành công nhờ hoạt động mô hình liên khoa hô hấp, tai mũi họng và phẫu thuật của bệnh viện.

3. Kim Minh: uống nhiều nước và bổ sung vitamin 
Được trêu chọc là “người có thể phồng lên và xẹp xuống như quả bóng”. Có thể hôm nay bạn gặp một Kim Minh đầy đặn thì một tuần sau gặp lại bạn sẽ thấy cô khác hẳn. Làm thế nào cô có thể điều khiển được trọng lượng?
Kim Minh cho biết: “Do đặc thù công việc người mẫu, nên Minh phải luôn kiểm soát được tình trạng cân nặng của mình. Mỗi khi tăng cân dù ít hay nhiều là Minh biết ngay.
Minh áp dụng chế độ dinh dưỡng đặc biệt. Buổi sáng uống thật nhiều nước, không uống một lúc nhưng uống đến ba lần với ba cốc nước đầy trước khi ăn sáng và ăn sáng thật ít. Trong ngày Minh luôn mang theo chai nước bên mình để uống. Ăn trưa đúng giờ nhưng khẩu phần ăn chủ yếu là rau và các món ăn nhẹ, hạn chế ăn cơm. Buổi ăn chiều cũng thế. Đặc biệt thời gian này Minh hoàn toàn không ăn khuya. Trong thời gian giảm cân Minh luôn bổ sung vitamin cho cơ thể bằng cách mỗi ngày Minh uống thêm hai ly nước cam và 1 – 2 ly nước bưởi ép. Song song với chế độ ăn kiêng này thì nếu có thời gian rảnh Minh lại đến hồ bơi vì đây là cách tốt nhất để làm cho cơ thể thon gọn nhanh nhất”.
4. Nắng nóng, lắm bệnh cần phải dè chừng
Thời tiết nắng nóng, oi bức từ 36 – 37oC trong những ngày qua đã ảnh hưởng đến sức khoẻ của không ít người. Nếu tình hình kéo dài, theo các chuyên gia sức khoẻ, cần phải lưu ý đến một số bệnh tật thường gặp trong mùa này.
Quan sát tình hình bệnh trong vài năm gần đây, bác sĩ Trần Anh Tuấn, trưởng khoa hô hấp bệnh viện Nhi Đồng 1 TP.HCM, cho biết: “Nếu ở xứ lạnh, bệnh hô hấp phát triển nhiều vào mùa lạnh thì ở nước ta các bệnh hô hấp ở trẻ nhỏ tăng cao trong mùa nóng”. Lý do là vào mùa nóng người lớn thường cho trẻ nằm quạt, nằm máy lạnh quá nhiều. Những bệnh hô hấp thường gặp là cảm ho, nhiễm siêu vi, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, và trong 20% trường hợp mắc những bệnh này có thể tiến triển thành viêm phổi.
Bác sĩ Tuấn cũng lưu ý phụ huynh cho trẻ chích ngừa đầy đủ những mũi bắt buộc trong chương trình tiêm chủng quốc gia. Về những mũi chích ngừa tự nguyện, nếu có điều kiện, nên cho trẻ chích ngừa bệnh viêm màng não mũ do Hib (gây ra do vi khuẩn Haemophilus influenza B) cho trẻ dưới năm tuổi. Bệnh này xảy ra quanh năm, nhưng có thể gây viêm phổi nặng. Một bệnh khác cũng có thể ngừa được bằng vaccine là viêm phổi do phế cầu, xảy ra sau những đợt cảm cúm do siêu vi. Để phòng ngừa bệnh hô hấp cho trẻ trong mùa nóng, bác sĩ Tuấn lưu ý người lớn cần cho trẻ nằm quạt, máy lạnh một cách hợp lý. Nếu thấy bệnh kéo dài hoặc có triệu chứng trở nặng, nên đưa trẻ đến cơ sở y tế khám ngay.
Cũng ở trẻ con, mùa nóng cần lưu ý những bệnh về da như rôm, sảy, u nhọt, nhiễm trùng da. Ở người lớn, thời tiết tăng cao khiến cho những người có mồ hôi dầu dễ nổi mụn nhọt. Do trời nóng làm tăng tiết mồ hôi, nên nếu giữ vệ sinh da không tốt, cũng có thể bị các bệnh do nấm như lang ben, hắc lào. Bác sĩ Lý Hữu Đức, trưởng phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Da liễu, ghi nhận các bệnh này tăng cao trong những ngày nắng nóng vừa qua. Bệnh không nguy hiểm, nhưng nếu để nhiễm trùng da, vi khuẩn có thể theo máu xâm nhập vào cơ thể gây viêm cơ tim, viêm cầu thận. Phòng ngừa những bệnh này, bác sĩ Đức khuyên giữ vệ sinh cá nhân tốt, mặc quần áo thoáng mát. Với trẻ con, cần tăng cường lau mát, tắm bằng trà xanh, hạn chế ăn đồ ngọt.
Đối với người lớn tuổi, trời nắng nóng có thể là tác nhân khiến các bệnh tim mạch trở nặng. Bác sĩ Phan Hữu Phước, trưởng khoa lão bệnh viện Nguyễn Trãi TP.HCM, giải thích do nhiệt độ tăng cao làm mất nước, rối loạn điện giải. Để phòng ngừa, ngoài việc bù nước đầy đủ, cần cho người lớn tuổi ở môi trường thoáng mát, theo dõi huyết áp và các dấu hiệu bệnh thường xuyên.

Trong cơ thể chỉ có khoảng 15 – 23mg iốt, lượng này ít hơn 100 lần so với trọng lượng của sắt trong cơ thể. Đây là một nguyên tố vi lượng quan trọng mà cơ thể chỉ cần với một lượng rất nhỏ nhưng nếu thiếu sẽ gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm.

Khi trẻ thiếu iốt
Tương tự với kẽm, thiếu iốt thường xuyên sẽ có những ảnh hưởng khó lường:
Thiếu iốt sẽ dẫn tới giảm hoạt tuyến giáp, được đặc trưng bởi dấu hiệu rụng lông, táo bón, vàng da, sợ lạnh, tăng cholesterol… Ở trẻ em, nếu được cung cấp bổ sung iốt kịp thời sẽ cải thiện được hoạt động trí tuệ và không có dấu hiệu của giảm hoạt giáp.
Trẻ thời kỳ thiếu niên bị thiếu iốt, sự phát triển thể chất cũng như trí não không bình thường, có thể bị thiểu năng trí tuệ, chậm lớn…

 Cần bổ sung iốt vào bữa ăn của trẻ.
Bướu cổ và đần độn là hai biểu hiện hay gặp nhất liên quan đến thiếu iốt. Bướu cổ có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời.
Phụ nữ mang thai thiếu iốt, sự phát triển bào thai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là bộ não của đứa trẻ. Người ta đã chứng minh, thiếu iốt ở mẹ từ mức trung bình đến nặng có thể gây chậm phát triển não của thai nhi và sinh ra đứa trẻ chậm phát triển trí tuệ, thậm chí đần độn hoặc mang khuyết tật.
Phòng ngừa thiếu iốt cho trẻ
Với trẻ từ 0 – 6 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn thì mẹ nên ăn nhiều hải sản và dùng muối iốt hoặc nước mắm có iốt để nguồn dưỡng chất quan trọng này tiết qua sữa bổ sung cho bé.
Với trẻ đã ăn dặm thì cần bổ sung iốt qua ăn uống hàng ngày. Iốt có nhiều trong hải sản: cá, tôm, cua và có nhiều trong các loại rau như rong, tảo biển, rau câu, rau xanh…

I-ốt: nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể trẻ 2
Iốt có nhiều trong hải sản: cá, tôm, cua
Trứng và các thực phẩm từ sữa cũng là một nguồn cung cấp iốt khá tốt. Vì vậy, các bà mẹ chú ý thêm vào thực đơn cho bé từ nguồn thức ăn giàu iốt này.
Nhu cầu iốt của trẻ/ngày là: Trẻ còn bú từ 0 – 6 tháng cần 40mcg; trẻ còn bú từ 6 – 12 tháng cần 50mcg; trẻ từ 1 – 3 tuổi cần 70mcg; trẻ từ 4 – 9 tuổi cần 120mcg; trẻ từ 10 – 12 tuổi cần 140mcg; từ 14 tuổi đến khi trưởng thành là 150mcg/ngày; phụ nữ có thai và đang cho con bú nên tăng thêm 50mcg/ngày.
Nếu lượng iốt được cung cấp quá nhiều do cung nhiều hơn nhu cầu hoặc uống thuốc chứa iốt thường xuyên… sẽ gây nên hội chứng cường giáp (bệnh Basedow), ngoài ra còn có thể bị u độc tuyến giáp (Toxic Adenoma), viêm tuyến giáp (Thyroiditis).
Lượng iốt có trong 100g thực phẩm: muối iốt: 555mcg, rau dền: 50mcg, nước mắm: 950mcg, rau cải xoong: 45mcg, cá thu: 45mcg, nấm mỡ: 18mcg, cá trích: 52mcg, khoai tây: 4,5mcg, bầu dục: 36,7mcg, súp lơ: 12mcg…
Sử dụng muối iốt thay cho muối thường trong ăn uống và chế biến thức ăn hàng ngày là đủ nhu cầu iốt cho cơ thể trẻ và phòng được các rối loạn do thiếu i-ốt.
Những thực phẩm có iốt
Các thực phẩm trên cạn như trứng, sữa chứa hàm lượng iốt cao (4-90mcg/kg), sau đó là các loại thịt. Cá nước ngọt có hàm lượng iốt tương đương hoặc thấp hơn so với các loại thịt. Thức ăn thực vật (ngũ cốc, rau quả) có hàm lượng iốt thấp nhất. Lượng iốt có trong thực phẩm còn phụ thuộc vào lượng iốt có trong đất và nước của từng vùng.
Ngoài ra, trong muối có hàm lượng iốt lớn. Càng là muối tinh chế, hàm lượng iốt càng ít. Hàm lượng iốt trong muối biển khoảng 20mcg/kg. Nếu mỗi người mỗi ngày nạp 10g muối vào cơ thể, chỉ có thể được 2mcg iốt, chắc chắn không thể đáp ứng nhu cầu phòng tránh việc thiếu iốt.
I-ốt: nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể trẻ 3
Những thực phẩm chứa iốt cao (hàm lượng iốt/100g thực phẩm đó):
 1.Tảo bẹ: 1mg (1.000mcg)
 2.Tảo tía (khô): 1.800mcg
 3.Rau chân vịt: 164mcg
 4.Rau cần: 160mcg
 5.Cá biển: 80mcg
 6.Muối biển: 2mcg
 7.Củ mài: 14mcg
 8.Muối ăn có iốt: 7.600mcg
 9.Cải thảo: 9.8mcg
 10.Trứng gà: 9.7mcg
Design by Hao Tran -